Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Việt Bắc -Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập 1, trang 108, NXB Giáo dục – 2008)
Câu 3. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)
Câu 4. Trong khổ thơ đầu, đại từ “mình” và “ta” tác giả dùng để nói về
những ai? (0,5 điểm)
Phần II. Làm văn (8,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người
mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp.
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh / chị
về ý kiến trên.
Câu 2. (5,0 điểm)
Nhân vật trong Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) đều là những người
con kiên cường, bất khuất trong công cuộc chống Mĩ cứu nước nhưng mỗi
người lại mang những nét riêng, những vẻ đẹp riêng khó quên. Phân tích các
nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít để làm sáng tỏ.
Đáp án đề thi học kì 2 lớp 12 môn Văn - THPT Trực Ninh B - Nam Định
năm 2015
Phần I. Đọc hiểu (2,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 2:
.... “Với một nỗi buồn thấm thía tôi nhìn theo hai bố con...Bỗng như có một
bàn chân con vật nào đó mềm mại nhưng móng sắc nhọn bóp lấy tim tôi,và
tôi vội quay mặt đi.Không,không phải những người đứng tuổi đã bạc đầu
trong chiến tranh chỉ khóc trong chiêm bao đâu.Họ cũng khóc trong thực tại
đấy.Cái chính ở đây là đừng làm tổn thương trái tim em bé,đừng để cho em
thấy những giọt nước mắt đàn ông hiếm hoi nóng bỏng lăn trên má anh”.
Câu 1. Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm Số phận con người của nhà
văn Sô-lô-khốp
(0.5 điểm)
Câu 2. Ý nghĩa chi tiết “những giọt nước mắt”: (0.5 điểm)
Giọt nước mắt lặng lẽ quay đi để bảo toàn niềm vui cho con trẻ của người
kể chuyện,cũng là giọt nước mắt Xô-cô-lốp âm thầm khóc trong đêm để Vani-a không bao giờ biết những bất hạnh thực sự đẫ đến với người bố yêu quý
của mình.Đó là những giọt nước mắt của một truyền thống nhân ái yêu
thương,quý trọng con người trong văn học Nga
Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 3 đến Câu 4:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Việt Bắc-Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập 1, trang 108, NXB Giáo dục – 2008)
Câu 3. Phương thức biểu đạt chính là phương thức biểu cảm. (0,5 điểm)
Câu 4. Trong khổ thơ đầu, đại từ “mình” và “ta” tác giả dùng để nói về
những ai? (0,5 điểm)
- Đại từ “mình”: nói về những người kháng chiến trở về Thủ đô.
- Đại từ “ta”: nói về người dân Việt Bắc- những người ở lại.
Phần II. Làm văn (8,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
a. Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm một bài văn nghị luận ngắn gọn (khoảng 600 từ) về một
vấn đề tư tưởng đạo lí. Bài viết có cách viết rõ ràng, chặt chẽ, gọn gàng, lưu
loát.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh cần giải thích, bàn luận vấn đề. Trong quá trình bàn luận, học
sinh có quyền trình bày quan điểm riêng của mình. Bài làm nên tổ chức theo
hướng sau:
- Giải thích :
+ Nghề nghiệp là công việc chuyên môn, làm theo sự phân công lao động
của xã hội.
+ Phân công xã hội ngày càng nhiều, càng sâu nên xã hội có nhiều ngành
nghề và giữ vị trí khác nhau trong xã hội.
+ Xã hội thường xuyên phát triển; có nghề nghiệp mới phát sinh nhưng cũng
có những nghề nghiệp phải bị tàn lụi. Do đó có nghề dễ mang lại sự thành
công (danh tiếng, tiền của, địa vị…) nhưng cũng có nghề không được như
vậy. Cho nên dẫn đến sự tồn tại trong xã hội quan niệm về sự cao quý, sang
hèn, tốt xấu… trong nghề nghiệp.
- Bàn luận:
+ Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người vì
* Mỗi nghề đều có đặc điểm, vị trí riêng trong cuộc sống xã hội.
* Nghề nghiệp nảy sinh từ nhu cầu xã hội, do đó mọi nghề đều cần thiết cho
cuộc sống, vì thế mỗi nghề đều có vai trò không thể thiếu được trong đời
sống xã hội, do đó nghề chân chính nào cũng đều cao quý cả.
* Tuy nhiên do đặc trưng riêng của một số ngành nghề, do ý nghĩa đặc biệt
của nó đối với đời sống, một số ngành nghề được đặc biệt biểu dương: nghề
dạy học, nghề thầy thuốc…
+ Mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp vì
* Con người là chủ thể của hoạt động nghề nghiệp, có tính chất quyết định
đối với giá trị của hoạt động nghề nghiệp.
* Con người có giá trị tự thân, chịu ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh.
Vì vậy có kẻ tốt, người xấu, chính vì thế điều này tạo nên giá trị của nghề
nghiệp.
* Trong những ngành nghề được biểu dương đặc biệt vẫn có những “con sâu
làm rầu nồi canh”. Trong những ngành nghề do bị thành kiến mà bị coi
thường vẫn có những con người cao quý, có cách hành xử được mọi người
ngưỡng mộ, ca ngợi.
* Làm rõ tại sao con người mang đến sự cao quý cho nghề nghiệp (dẫn
chứng). Chính tư cách và đức hạnh sáng ngời của con người làm cho người
khác phải tôn trọng nghề nghiệp của họ.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Cần nhận thức: không nên có tư tưởng phân biệt nghề sang trọng, cao quý
và nghề thấp hèn. Cần phê phán quan niệm phân biệt này vì nó không đúng
đắn, nó tồn tại trong xã hội phong kiến ngày xưa và không nên tiếp tục trong
cuộc sống ngày nay.
+ Cần thấy những việc làm không chính đáng: ví dụ như trộm cướp, gian
dối… để kiếm sống không phải là nghề nghiệp chân chính như chúng ta
đang bàn.
+ Cần thấy giá trị đúng đắn của nghề nghiệp; nghề nghiệp chân chính nào
cũng có giá trị và đều đáng được trân trọng. “Giá trị của một con người là lợi
ích của họ mang lại cho người khác chứ không phải là nghề nghiệp của họ”.
+ Cần có thái độ đúng đắn khi chọn nghề. Không nên chạy theo quan điểm
hời hợt (sang hèn…) về nghề nghiệp của một số người. Cần chọn nghề phù
hợp với năng lực, với ước mơ, hoàn cảnh của bản thân, nhu cầu và sự phát
triển của xã hội.
+ Với nghề nghiệp cần “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, chuyên tâm rèn
luyện tay nghề, giữ gìn lương tâm nghề nghiệp, trao dồi đạo đức để làm hiển
vinh nghề nghiệp, giá trị bản thân.
- Tổng kết : “Không phải nghề nghiệp mang đến sự cao quý cho con
người mà chính con người mang đến sự cao quý cho nghề nghiệp” là một ý
kiến đúng đắn, nó là một lời khuyên, một lời nhắc nhở đối với mọi người
nhất là đối với thanh niên đang đứng trước ngưỡng cửa lựa chọn nghề
nghiệp.
c.Cách cho điểm:
-Điểm 2,5-3:đáp ứng được các yêu cầu trên,có thể mắc một số lỗi nhỏ về
dùng từ,diễn đạt.
-Điểm 1-2:đáp ứng được một nửa những yêu cầu trên,còn mắc lỗi về dùng
từ,diễn đạt...
-Điểm 0 : hoàn toàn lạc đề ( hoặc không viết được gì ).
Câu 3 (5 điểm):
*Yêu cầu về kỹ năng:
- Biết cách trình bày một bài làm văn nghị luận văn học.
- Trình bày ngắn gọn, đủ ý, diễn đạt lưu loát.
- Bố cục rõ ràng. Văn có cảm xúc.
- Không sai lỗi chính tả, lỗi diễn đạt.
* Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh có thể có những cách trình bày khác nhau nhưng bài viết cần đảm
bảo các ý cơ bản sau:
1.
Yêu cầu về kĩ năng:

Đăng nhận xét