BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI - Nguồn vốn: Trong thời gian qua, nguồn vốn cho công tác quản lý và BVMT lưu vực sông đã từng bước được đa dạng hoá: ngân sách nhà nước, tài trợ quốc tế, đầu tư từ cộng đồng và khu vực tư nhân. Mặc dù vậy, hiện nay, đầu tư cho bảo vệ môi trường lưu vực sông chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, các nguồn khác còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ. - Hiệu quả đầu tư: Tác dụng và hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế; Chưa xác đònh được các ưu tiên để đầu tư tập trung có trọng điểm, đầu tư còn trùng lặp. 4.7.3. Quan trắc và thông tin môi trường Trong những năm gần đây, nhiều chương trình quan trắc chất lượng nước mặt phục vụ cho các mục tiêu khác nhau đã được thực hiện, việc quan trắc chất lượng nước mặt ngày càng được tổ chức một cách hệ thống hơn, thu được nhiều số liệu quan trọng theo không gian và thời gian đối với từng lưu vực. Các đòa phương trong lưu vực mặc dù còn hạn chế về kinh phí cũng như kinh nghiệm trong hoạt động quan trắc nhưng đã rất nỗ lực đầu tư mua sắm các thiết bò, kể cả xây dựng các phòng thí nghiệm quan trắc và phân tích chất lượng nước. Tuy nhiên, những việc làm được như vừa kể trên chưa tương xứng với nhu cầu cần thiết. a. Mạng lưới quan trắc Hoạt động quan trắc môi trường nước các lưu vực sông ở cấp trung ương hiện nay chủ yếu do một số đơn vò trong Bộ TN&MT và một số bộ/ngành khác tham gia. Trong đó quan trọng nhất là Hệ thống quan trắc môi trường Quốc gia do Cục Bảo vệ môi trường quản lý. Từ năm 2005, Chương trình quan trắc tổng thể 3 lưu vực sông: Cầu, Nhuệ Đáy, hệ thống sông Đồng Nai đã được Khung 4.9. Hệ thống quan trắc môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Tp. Hồ Chí Minh Sở Khoa học, Công nghệ, Môi trường (cũ) và Ủy Ban Môi trường TP. Hồ Chí Minh từ năm 1992 đã đầu tư nghiên cứu, xây dựng hệ thống quan trắc môi trường, hiện nay đã quan trắc liên tục 10 điểm quan trắc nước theo tần suất hàng tháng với hầu hết các thông số hóa, lý, thủy văn cơ bản. Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường TP. Hồ Chí Minh, 2006 Cục Bảo vệ môi trường phê duyệt và hoạt động quan trắc trong các lưu vực sông này cũng đã bắt đầu được tiến hành. Tuy nhiên, do giới hạn về kinh phí, hoạt động quan trắc chưa được tiến hành với đầy đủ số điểm quan trắc và tần suất như thiết kế trong Chương trình. Trong Bộ TN&MT còn có mạng lưới quan trắc thủy văn và môi trường nước thuộc Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Quốc gia; mạng lưới quan trắc nước dưới đất do Cục Đòa chất và Khoáng sản quản lý. Bên cạnh đó, các Bộ, ngành khác cũng tiến hành quan trắc nước mặt lưu vực sông, phục vụ các yêu cầu của Bộ, ngành mình. Chẳng hạn Bộ Thuỷ sản quan trắc chất lượng nước nuôi trồng thuỷ sản, Bộ Y tế giám sát chất lượng nước đảm bảo điều kiện vệ sinh, Bộ NN&PTNT quan trắc môi trường nước phục vụ nông nghiệp. Ngoài các trạm quan trắc môi trường quốc gia, nhiều tỉnh/thành trong các lưu vực sông cũng đã thành lập Trung tâm Quan trắc nhằm theo dõi, giám sát diễn biết chất lượng môi trường nói chung, phục vụ công tác quản lý bảo vệ môi trường của đòa phương (như: Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương... thuộc LVHTS Đồng Nai; Thái Nguyên, Bắc Ninh và Vónh Phúc... thuộc LVS Cầu; và Hà Nội, Nam Đònh... thuộc LVS Chương 4: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯNG NƯỚC TẠI 3 LƯU VỰC SÔNG 71 BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI Nhuệ - Đáy). Hoạt động quan trắc môi trường nước lưu vực sông của các đòa phương cũng ngày càng được tăng cường, số điểm quan trắc, tần suất và thông số quan trắc cũng ngày càng tăng. Hoạt động quan trắc chất lượng nước mặt ở 3 lưu vực sông còn nhiều hạn chế như: - Kinh phí đầu tư và nguồn lực cán bộ cho công tác quan trắc môi trường nước còn hạn chế do đó tần suất quan trắc còn thưa, thông số quan trắc còn hạn chế và số lượng điểm quan trắc còn ít so với yêu cầu thực tế. - Chưa có các hoạt động quan trắc chất lượng nước liên tục. Do đó khó phát hiện và cảnh báo kòp thời các vấn đề ô nhiễm khi mới xuất hiện hoặc đang tiềm tàng. - Một số đòa phương đã trang bò được các thiết bò quan trắc và phân tích môi trường, tuy nhiên chưa chú trọng đến phát triển dài hạn cũng như vấn đề đào tạo nguồn nhân lực. - Hoạt động bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong hoạt động quan trắc môi trường còn yếu làm ảnh hưởng đến chất lượng và tính thống nhất của số liệu. b. Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu Hiện tại, chưa có hệ thống thông tin môi trường lưu vực sông cả ở mức quốc gia cũng như ở mức lưu vực, cũng như chưa có chuẩn thống nhất cho hệ thống thông tin và cơ chế cập nhật thông tin môi trường các LVS trong cả nước Trong năm 2006, Cục Bảo vệ môi trường phối hợp với các tỉnh trong lưu vực tiến hành xây dựng và cập nhật thông tin cho trang thông tin điện tử về môi trường 3 lưu vực sông. 72 Khung 4.10. Chương trình quan trắc tổng thể môi trường nước 3 LVS: Cầu, Nhuệ Đáy, hệ thống sông Đồng Nai Năm 2005, Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường đã phê duyệt Chương trình quan trắc tổng thể môi trường nước các LVS Cầu, Nhuệ-Đáy, Đồng Nai-Sài Gòn. Theo chương trình này, hoạt động quan trắc cấp quốc gia đối với môi trường nước tại 3 lưu vực sông sẽ được thực hiện với tần suất 6 lần/năm, và số điểm quan trắc phủ trùm toàn bộ lưu vực. Kinh phí thực hiện Chương trình quan trắc tổng thể này từ 1,2 - 2,5 tỷ/năm/lưu vực. Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2006 Một số đòa phương trên các LVS đã tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường tại đòa phương mình. Tuy nhiên, chưa có các cơ sở dữ liệu ở cấp lưu vực hoặc tiểu lưu vực. Việc trao đổi, chia sẻ số liệu, thông tin môi trường giữa các tỉnh trong lưu vực và giữa các lưu vực với nhau cũng còn nhiều hạn chế. Nghò đònh số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ về việc Ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước, là văn bản cung cấp cơ sở pháp lý cho việc phát triển các mô hình quản lý dữ liệu về tài nguyên nước cùng với việc xác đònh rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc quản lý số liệu. Tuy nhiên, đến nay Quy chế vẫn chưa được thực thi một cách hiệu quả. 4.7.4. Hoạt động nghiên cứu Nghiên cứu về lưu vực sông ở Việt Nam đã được thực hiện khá sớm, đặc biệt những nghiên cứu chuyên sâu về các lónh vực: khí tượng - thuỷ văn, đòa hình - đòa mạo... tạo nền tảng cho các đònh hướng phát triển kinh tế xã hội trong lưu vực sông. Các nghiên cứu về diễn biến và chất lượng môi trường Chương 4: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯNG NƯỚC TẠI 3 LƯU VỰC SÔNG BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI nước trong lưu vực sông gần đây được phát triển mạnh hơn. Khung 4.11. Tăng cường vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường Các công trình nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp thiết thực, có những đóng góp tích cực trong công tác bảo vệ môi trường lưu vực sông và cung cấp các số liệu quý giá cho các nghiên cứu tiếp theo. “Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghóa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta”. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế như: phân tán, không tập trung, mới dừng ở mức khái quát, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về chất lượng nước, phương pháp luận trong qui hoạch, công cụ kinh tế, công cụ thông tin, quản lý xung đột trong lưu vực sông. Một số nghiên cứu không có tính thực tế, hiệu quả ứng dụng không cao. Nghò quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trò về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 4.8. SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG Thực tế những năm qua cho thấy, thành công của các hoạt động bảo vệ môi trường phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường lưu vực sông hiện vẫn còn nhiều hạn chế: - Tiềm năng của cộng đồng vẫn chưa được phát huy đầy đủ, sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình ra quyết đònh, hoạch đònh chính sách và các hoạt động quản lý môi trường vẫn còn nhiều hạn chế. - Trách nhiệm bảo vệ môi trường lưu vực sông và tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp cũng như cộng đồng chưa cao. - Nhận thức của cộng đồng dân cư với công tác bảo vệ môi trường lưu vực sông còn là vấn đề cần được quan tâm. Vấn đề này sẽ còn tồn tại cho đến khi chuyển biến được tư tưởng cố hữu vốn không quen coi việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của bản thân. Chương 4: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯNG NƯỚC TẠI 3 LƯU VỰC SÔNG 73 BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI 74 Chương 4: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯNG NƯỚC TẠI 3 LƯU VỰC SÔNG

0 nhận xét:

Đăng nhận xét