Khóa Luận: Nghiên cứu Công nghệ Xử lý Bùn thải Giấy Theo hướng Tái Sản xuất
Nguyên liệu thô (tre, nứa, gỗ mềm…)
CHUẨN BỊ NGUYÊN LIỆU
Chặt, băm, cắt
Thu hồi hóa chất
Nấu
Rửa
NGHIỀN BỘT
Sàng
Làm sạch
Hóa chất
Tẩy trắng
Nước
Rửa
Hóa chất
Nghiền đĩa
Nước
Làm sạch, ly tâm
Nước thải
CHUẨN BỊ BỘT
Xeo
Nước thải
XEO GIẤY
Hoàn tất
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ quy trình tổng quát quá trình sản xuất giấy
c. Chất thải ngành giấy.
Nhà máy giấy và bột giấy sinh ra chất thải dưới dạng: Nước thải, khí thải và
chất thải rắn. Loại chất thải nổi bật nhất là nước thải, sau đó là khí thải và chất thải
rắn. Các nhà máy giấy và bột giấy sinh ra một lượng nước thải lớn nếu không được
11
Khóa Luận: Nghiên cứu Công nghệ Xử lý Bùn thải Giấy Theo hướng Tái Sản xuất
xử lý thì có thể ảnh hưởng tới nguồn tiếp nhận. Các nguồn chất thải điển hình được
thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1. Nguồn phát sinh chất thải điển hình từ nhà máy giấy.
Bộ phận
Các nguồn điển hình
- Hơi ngưng khi phóng bột.
- Dịch đen bị rò dỉ hoặc bị tràn.
- Nước làm mát ở các thiết bị nghiền đĩa.
Sản xuất bột giấy
- Rữa bột giấy chưa tẩy trắng.
- Phân tách loại có chứa nhiều sơ, sạn và cát.
- Phân lọc ra khi làm đặc bột giấy.
- Nước rửa sau tẩy trắng có chứa chlorolignin.
- Nước thải có chứa hypochlorite.
Chuẩn bị phối liệu bột - Rò rỉ và tràn các hóa chất / phụ gia.
- Rửa sàn.
- Phân tách loại từ máy làm sạch ly tâm có chứa xơ, sạn và
cát.
Xeo giấy
- Chất thải từ hố lưới có chứa xơ.
- Dòng tràn từ hố bơm quạt.
- Phần nước lọc ra từ thiết bị tách nước có chứa xơ, bột đá
và các chất .
- Nước xả đáy.
Khu vực phụ trợ
- Nước ngưng tụ chưa được thu hồi.
- Nước thải hoàn nguyên từ tháp làm mềm.
- Nước làm mát máy nén khí.
- Nước ngưng tụ từ máy hóa hơi.
- Dịch loãng từ thiết bị rửa cặn.
Thu hồi hóa chất
- Dịch loãng từ thiết bị rửa bùn.
- Nước bẩn ngưng đọng.
- Nước ngưng tụ từ thiết bị làm mát và từ hơi nước.
(Nguồn: Tài liệu sản xuất sạch hơn nghành Sản xuất Giấy và Bột giấy, 2008)
Phần lớn nước thải phát sinh là nước dùng trong quy trình tiếp xúc với nguyên
liệu thô, với các sản phẩm, sản phẩm phụ và các chất dư thừa. Quy trình sản xuất bột
giấy bằng kiềm tiêu tốn khoảng 2 tấn gỗ cho mỗi tấn bột giấy sản xuất ra, nghĩa là
khoảng một nữa lượng nguyên liệu thô bị hòa trộn trong dung dịch nấu. Các quy
trình sản xuất bột giấy cho loại giấy viết và giấy in có sản lượng bột khoảng
45 – 50%. Tải lượng BOD5 từ các quy trình này khoảng 300-600 kg đối với một tấn
bột giấy khô, tương tự như BOD5 thì COD khoảng 1200-1600 kg đối với 1 tấn bột
giấy khô. Tại các nhà máy thì công đoạn tẩy trắng bột giấy là công đoạn gây nhiều ô
nhiễm nhất. Nước thải từ công đoạn này chiếm 50-75% tổng lượng nước thải và
chiếm 80- 95% tổng lượng dòng thải ô nhiễm.
12
Khóa Luận: Nghiên cứu Công nghệ Xử lý Bùn thải Giấy Theo hướng Tái Sản xuất
Sản xuất giấy là một quá trình vật lý, các chất phụ gia trong quá trình xeo
giấy như các hợp chất hồ và phủ cũng là một trong những nguyên nhân gây ra ô
nhiễm. So với quá trình làm bột giấy thì nước thải từ công đoạn sản xuất giấy có
phần cao hơn về hàm lượng chất rắn lơ lửng nhưng hàm lượng BOD lại ít hơn.
Tổng lượng nước thải và giá trị tải lượng ô nhiễm cho một tấn giấy khô trước
khi xử lý của một số nhà máy giấy và bột giấy tại tỉnh Bình Dương được thể hiện ở
bảng sau:
Bảng 2.2. Giá trị tải lượng ô nhiễm của nghành giấy.
STT
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
Doanh nghiệp
Tải lượng ô nhiễm
(Kg/ngày)
COD
BOD
TSS
Công ty TNHH giấy lụa New toyo
598
232
73
Công ty TNHH TM-XD-CN Hòa Phương 10
4
6
Công ty TNHH giấy Vạn Phát
321
130
105
Công ty TNHH giấy An Bình
1100
547
160
DNTN giấy Hùng Hưng
28
13
17
Công ty TNHH giấy Phát Đạt
152
58
84
CÔNG TY tnhh Châu Thới
131
43
206
XNTD Thuận An
105
59
19
DNTN Phước Lộc Thọ
235
93
36
Nhà máy giấy Bình An
223
100
614
Công ty TNHH An Lộc
605
190
393
Cơ sở giấy Lộc Bình
455
269
533
(Nguồn: Tài liệu sản xuất sạch hơn nghành Sản xuất Giấy và Bột giấy, 2008)
Chất thải rắn bao gồm: Bùn, tro, chất thải gỗ, phần tách loại từ quá trình làm
sạch ly tâm, cát và sạn. Bùn chủ yếu là phần cặn của bể lắng, cặn từ tầng làm khô
của trạm xử lý nước thải. Bên cạnh đó, đôi khi còn có cặn của dầu thải từ thùng
chứa dầu đốt. Khi xử dụng than, xỉ và phần than chưa cháy từ lò hơi cũng là nguồn
thải rắn cần phải thải bỏ một cách an toàn. Lượng chất thải rắn của các công đoạn
hoạt động khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô hoạt động, thành phần
nguyên liệu thô.
d. Công nghệ xử lý nước thải tại Công ty TNHH giấy lụa NewToyo.
Công ty TNHH giấy lụa NewToyo là công ty có hệ thống xử lý nước thải
tương đối hoàn chỉnh. Nhà máy sản xuất giấy lụa của công ty được xây dựng tại
KCN Việt Nam-Singapore với các sản phẩm chính là: Giấy cuộn và các sản phẩm
hoàn tất như giấy cuộn vệ sinh, khăn giấy lụa, khăn giấy hộp, khăn giấy lụa bỏ túi,
giấy ăn có chất lượng cao. Công ty hoạt động với công suất sản xuất 20.000 tấn sản
13
Khóa Luận: Nghiên cứu Công nghệ Xử lý Bùn thải Giấy Theo hướng Tái Sản xuất
phẩm/năm, với lưu lượng nước thải trung bình 3300m 3/ngày. Sau đây là quy trình
xử lý nước thải của Công ty NewToyo được mô tả theo sơ đồ.
Nước thải
SCR
Bể gom
Bể keo tụ
Nước tuần hoàn lại trong quy trình sản xuất
Nước thải
Bể khử trùng
Bể DAF
Bể chứa nước tuần hoàn
Tháp lọc sinh học
ra
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải Công ty NewToyo
Thuyết minh công nghệ xử lý:
Trước khi nước thải đi vào bể gom thì nước thải phải đi qua song chắn rác,
song chắn rác có nhiệm vụ loại bỏ rác có kích thước lớn ra khỏi nước thải. Tiếp
theo nước thải được bơm từ bể gom qua bể keo tụ, tại bể keo tụ thì polymer cation
được bơm vào với mục đích là keo tụ các chất rắn và bột giấy còn lại ở dạng lơ lửng
trong nước thải. Sau đó nước thải qua bể DAF (bể tuyển nổi), tại đây chất rắn lơ
lửng sẽ được loại bỏ ra khỏi nước thải và được chuyển đền bể nén bùn. Sau đó bùn
được bơm đến máy ép bùn, trong quá trình vận chuyển bùn về máy ép bùn thì
polymer cation được bơm vào để tăng sự kết dính của bánh bùn sau khi ép, bánh
bùn sau đó được vận chuyển đi xử lý như chôn lấp hoặc sản xuất ethanol. Nước thải
tiếp tục được chảy đến tháp lọc sinh học, trong quá trình lọc sinh học thì cũng phát
sinh ra một lượng bùn. Bùn này được gọi là bùn thứ cấp, nó có thể sử dụng để sản
xuất phân compost. Nước thải trong tháp lọc sinh học sẽ được loại bỏ BOD, COD,
N, P, nhờ quần thể vi sinh vật trong tháp lọc. Sau đó nước thải sẽ được đưa tới bể
khử trùng để tiêu diệt các vi sinh vật trong nước thải và tiếp tục nước thải sẽ được
đưa ra nguồn tiếp nhận.
2.2. Bùn thải giấy.
2.2.1. Khái niệm về bùn thải giấy.
Bùn thải giấy là một phế phẩm của ngành công nghiệp sản xuất giấy. Nguồn
chính của bùn thải giấy là cặn của bể lắng và cặn từ tầng làm khô của trạm xử lý
nước thải. Bên cạnh đó, cũng có một lượng lớn bột giấy từ quá trình xeo giấy được
thải ra và trộn lẫn với bùn của bể lắng. Bùn thải giấy có thành phần glucan cao và
có cấu trúc phân tán nên bùn giấy là một nguyên liệu thích hợp cho quá trình
chuyển hóa sinh học thành các sản phẩm có giá trị mà không qua tiền xử lý. Tuy
14
Khóa Luận: Nghiên cứu Công nghệ Xử lý Bùn thải Giấy Theo hướng Tái Sản xuất
nhiên, hàm lượng tro trong bùn thải cao, có nguồn gốc từ các chất phụ gia vô cơ
trong quá trình sản xuất giấy, gây trở ngại cho các quá trình chuyển hóa sau này.
Bùn thải giấy được phát sinh từ các chất thải rắn lơ lửng trong nước thải của
quá trình sản xuất giấy. Các chất thải này được loại bỏ ra khỏi nguồn nước thông
qua hệ thống xử lý nước thải giấy tạo thành bùn thải giấy. Bùn thải giấy bao gồm 2
loại: Bùn thải sơ cấp và bùn thải thứ cấp.
Bùn thải sơ cấp là bùn thải mà các chất lơ lững trong nước thải được loại bỏ
từ bể lắng sơ cấp, bể tuyển nổi (DAF) … Hàm lượng chất rắn trong bùn sơ cấp dao
động trong khoảng 2-7% chủ yếu là cellulose, hemicellulose và lignin và một phần
chất hữu cơ có trong nước thải.
Bùn thải thứ cấp sinh ra từ các công trình xử lý nước thải bằng tác nhân sinh
học như: Bể bùn hoạt tính, bể bùn hoạt tính có màng lọc, lọc sinh học và đĩa quay
sinh học. Bùn thứ cấp có chứa các vi sinh vật và các chất lắng chưa được loại bỏ bởi
các công trình phía trước.
Bùn thứ cấp từ các công trình bùn hoạt tính có hàm lượng chất cellulose,
hemicelluloses, lignin trong khoảng 0,4-1,5% cellulose, hemiCellulose và lignin, từ
lọc sinh học nhỏ giọt trong khoảng 1-4%.
Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương thì mỗi ngày
khoảng 250 – 300 tấn bùn thải giấy thải ra được xử lý bằng phương pháp chôn lấp,
chưa có hướng tận dụng. Bùn thải giấy chứa hàm lượng Cellulose cao là nguồn
nguyên liệu tốt cho việc sản xuất Bioethanol và phân Compost trong tương lai ở
Việt Nam. Đáp ứng các nhu cầu của thời đại trong các vấn đề môi trường.
Tại Hoa Kỳ có khoảng bốn triệu tấn bùn giấy được thải ra mỗi năm. Bùn này
thường được tách nước và sau đó xử lý bằng cách chôn dưới lòng đất hoặc đem đốt.
Theo một số nghiên cứu của trường đại học Shizuoka University tại Nhật Bản
thì thành phần chính của bùn thải giấy gồm có 65% là nước, 24,5% cellulose,
10,5% là tro và các chất khác. Hemicellulose chiếm rất ít và hầu như không có
lignin.
Tuy vậy, bùn giấy cũng là một dạng vật liệu lignocellulose bao gồm các thành
phần chính là: Cellulose, hemicellulose và lignin. Các thành phần trong
lignocellulose liên kết với nhau chặt chẽ tạo nên một cấu trúc hết sức vững chắc.
Ngoài ra trong bùn giấy còn có một số chất trích ly như acid resin, acid béo, những
hợp chất turpenoid, cồn… với hàm lượng thấp.
15
Khóa Luận: Nghiên cứu Công nghệ Xử lý Bùn thải Giấy Theo hướng Tái Sản xuất
Về cơ bản trong lignocellulose, cellulose tạo thành khung chính và được bao
bọc bởi những chất có chức năng tạo mạng lưới như hemicellulose và kết dính như
lignin. Cellulose, hemicellulose và lignin sắp xếp gần nhau và liên kết cộng hóa trị
với nhau.
Hình 2.1. Cấu trúc của lignocellulose
Hình 2.2. Mối quan hệ cellulose – hemicellulose - lignin trong cấu trúc
lignocellulose
Các mạch cellulose tạo thành các sợi cơ bản. Các sợi này được gắn lại với
nhau nhờ hemicellulose tạo thành cấu trúc vi sợi, với chiều rộng khoảng 25nm. Các
vi sợi này được bao bọc bởi hemicellulose và lignin, giúp bảo vệ cellulose khỏi sự
tấn công của ezyme cũng như các hóa chất trong quá trình thủy phân.
2.2.2. Bùn thải giấy tại Công ty TNHH New Toyo Pulppy.
Bùn thải giấy của Công ty TNHH New Toyo Pulppy phát sinh từ bể tuyển
nổi (DAF) và tháp lọc sinh học.
Trong bùn thải giấy bao gồm các thành phần các chất như: Cellulose,
Hemicellulose, Lignin, Chất trích ly, Tro, Chất điều hòa (polymer).
a. Cellulose.
Là hợp chất cao phân tử được cấu tạo từ các liên kết mắt xích β-D-Glucose, có
công thức cấu tạo là (C6H10O5)n hay [C6H7O2(OH)3]n trong đó n nằm trong khoảng
16

Đăng nhận xét