150 ngàn tấn bột giấy một năm như hiện nay, ngành giấy sử dụng khoảng 700 ngàn
tấn nguyên liệu qui chuẩn (độ ẩm 50%). Nếu tính sinh khối rừng nguyên liệu tăng
trưởng mỗi năm khoảng 12 – 15 tấn và sản lượng rừng nguyên liệu giấy đến kỳ khai
thác của Việt Nam dưới 100 tấn/ha, thì diện tích rừng bò khai thác cho ngành giấy
không phải nhỏ. Lượng giấy cũ sử dụng để tái sinh trong sản xuất ở nước ta còn thấp,
tuy chưa có thống kê chính xác nhưng được đánh giá khoảng 10 – 15% so với tổng
lượng bột giấy sử dụng. Đó là con số quá khiêm tốn vì ở nhiều nước trên thế giới chỉ
số này đạt trên dưới 50%. Nhiều vùng trong khu vực (Hàn Quốc, Đài Loan) nhập
khẩu rất nhiều giấy cũ để chế biến và tái sử dụng rất có hiệu quả vì vừa không phải
khai thác rừng tự nhiên, lại vừa không phải tổ chức sản xuất bột giấy vừa tốn kém,
vừa ô nhiễm môi trường.
Về công nghệ, ngành giấy Việt Nam còn lạc hậu và ở trình độ rất thấp. Sản
xuất bột giấy là khâu có ảnh hưởng mạnh nhất tới môi trường. Bột giấy ở nước ta
được sản xuất chủ yếu ở Bãi Bằng bằng phương pháp nấu kiềm. Công ty giấy Bãi
Bằng có sản lượng bột giấy chiếm 20 – 30% sản lượng bột giấy toàn ngành. Bột giấy
ở đây được nấu từ gỗ bồ đề, mỡ, bạch đàn, keo, … (khoảng 50%) và tre nứa (khoảng
50%), theo phương pháp sulphate (dòch nấu là hỗn hợp các dung dòch NaOH và Na 2S).
Dòch đen sau nấu được thu hồi, cô đặc và đốt. Khoảng 55% sinh khối nguyên liệu hòa
tan vào dòch đen biến thành CO 2 khi đốt. Hóa chất nấu được bổ sung ở dạng sulphate
natri (nên gọi là phương pháp sulphate) và được thu hồi để dùng lại. Bởi vậy, ô nhiễm
sinh ra ở khu này chủ yếu là khí có mùi, chất hữu cơ, hóa chất kiềm tính rò rỉ và khói
lò đốt thu hồi.
Tổng lượng Clo dùng cho tẩy trắng khoảng 100 kg (Cl 2 hoạt tính) cho một tấn
bột. Lượng xút là khoảng 30 kg/tấn bột. Nếu tính mỗi ngày ở đây người ta sản xuất
khoảng 150 tấn bột giấy tẩy trắng thì riêng ở khâu tẩy người ta đã sử dụng và thải ra
khoảng 15 tấn Clo và các hợp chất của nó, 40 – 50 tấn xút. Thêm vào đó là khoảng
15 tấn hợp chất hữu cơ bò hòa tan trong quá trình tẩy trắng và đi ra theo nước thải.
Như vậy, có thể thấy được mức độ tác động tới môi trường ở công đoạn này là rất
đáng kể.
Công đoạn sản xuất giấy bao gồm nghiền bột, pha chế với các chất phụ gia,
xeo giấy và hoàn thiện sản phẩm. Tải trọng môi trường ở giai đoạn này không lớn vì
nước sản xuất được quay vòng sử dụng theo chu trình khép kín, nước thải chỉ đem
theo một lượng nhỏ hóa chất không độc hại, có pH thường là 5,5 – 6,0 và một tỷ lệ rất
nhỏ sơ sợi vụn, ngắn thoát qua lưới xeo. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
trong sử dụng quay vòng nước trắng (nước trong chu trình) như sử dụng chất tuyển nổi
thu hồi xơ sợi và chất phụ gia, tận thu xơ sợi trên tuyến nước thải như ở công ty giấy
Bãi Bằng đã làm giảm đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, điều đáng nói là ngoài công ty giấy Bãi Bằng có thiết kế công
nghệ và trang thiết bò khá hoàn chỉnh, nhiều xí nghiệp giấy khác sản xuất theo
phương pháp công nghệ rất “không môi trường”. Đó là công nghệ nấu bột giấy từ
những loại nguyên liệu khác nhau bằng dung dòch xút (NaOH) ở nhiệt độ cao (130 –
1700C), không có thu hồi hóa chất. Toàn bộ dòch đen sau nấu (hỗn hợp của các hóa
chất và các thành phần nguyên liệu đã hòa tan) được thải ra môi trường. Các xí
nghiệp sản xuất giấy theo công nghệ như vậy có nước thải với hàm lượng BOD và
COD rất cao, vượt xa tiêu chuẩn cho phép. Có thể nêu ở đây các cơ sở sản xuất có qui
mô không nhỏ lắm như Công ty giấy Đồng Nai, nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ (Thái
Nguyên), nhà máy giấy Việt Trì, nhà máy giấy Lửa Việt (Phú Thọ), nhà máy giấy
Lam Sơn, Mục Sơn (Thanh Hóa).
Một số nhà máy giấy gần đây tổ chức sản xuất giấy vàng mã xuất khẩu, trong
đó đáng kể là công ty giấy Hải Phòng và công ty giấy Vónh Huê (thành phố Hồ Chí
Minh). Các cơ sở này sử dụng tre nứa ngâm với dung dòch xút và dòch ngâm được thải
ra môi trường có độ ô nhiễm rất cao vì chứa nhiều xút cũng như các chất hữu cơ hòa
tan. Nước thải có nồng độ BOD, COD và màu rất cao, đều vượt quá tiêu chuẩn cho
phép nhiều lần.
Ở hầu hết các đòa phương có các cơ sở sản xuất giấy thì đó chính là các điểm
nóng về ô nhiễm môi trường công nghiệp. Đó là công ty giấy Bãi Bằng và nhà máy
giấy Việt Trì ở Phú Thọ, công ty giấy Đồng Nai, công ty giấy Tân Mai (Đồng Nai),
công ty giấy Vónh Huê, công ty giấy Linh Xuân ở Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh),
các công ty giấy Hải Phòng, Thanh Hóa.
Ngoài nguyên nhân công nghệ sản xuất có độ ô nhiễm cao, một nguyên nhân
quan trọng là khâu xử lý chất thải còn rất hạn chế. Ngoài công ty giấy Bãi Bằng có
một vài biện pháp xử lý sơ bộ, hầu hết các cơ sở không có hệ thống trang thiết bò xử
lý chất thải. Các chất thải tạo thành trong sản xuất hoàn toàn tự do đi ra môi trường
nước và không khí. Về phương diện này, lòch sử 35 năm phát triển của ngành giấy
Việt Nam đã để lại gánh nặng đáng kể. Trong bối cảnh sản xuất kinh doanh khó khăn
hiện nay các doanh nghiệp hầu như không có khả năng đầu tư trang thiết bò xử lý chất
thải cũng như đổi mới công nghệ để giảm thiểu ô nhiễm. Thậm chí có cơ sở sản xuất
đã được tài trợ quốc tế xây dựng hệ thống xử lý nước thải (tuy còn xa mới đạt sự hoàn
chỉnh) nhưng cũng không đủ khả năng về mặt kinh tế để vận hành hệ thống đó.
Cũng may mắn là qui mô sản xuất giấy của nước ta còn nhỏ bé nên vấn đề ô
nhiễm môi trường do nó gây ra chưa đến mức nguy hiểm. Tuy nhiên, như thế không
có nghóa là các xí nghiệp sản xuất giấy vô can. Điều quan trọng là cần có sự đánh giá
chính xác và khách quan ảnh hưởng của sản xuất giấy tới môi trường và ngành giấy
cũng như các ngành các cấp có liên quan cần tìm ra những giải pháp, bước đi thích
hợp, tránh được những hậu quả cũng như sự bùng nổ nào đó về ô nhiễm môi trường
khi ngành giấy phát triển.
2.3 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
Ngành sản xuất bột giấy và giấy được liệt vào ngành sản xuất gây ô nhiễm
môi trường đáng kể cả trực tiếp cũng như gián tiếp.
19 Trực tiếp
- Nước thải có lưu lượng, tải lượng cũng như độc tính của các chất ô
nhiễm cao, các chất ô nhiễm hữu cơ (dòch chiết từ thân cây, các axit
béo, một số sản phẩm phân hủy của lignin, và các dẫn xuất của
ligin đã bò Clo hóa) phát sinh từ ngành giấy là nguồn tiềm tàng gây
ô nhiễm môi trường nước mặt, đất và nước ngầm nếu được thải
thẳng ra ngoài không qua xử lý. Đặc biệt là dòch đen thải ra từ quá
trình nghiền bột bằng phương pháp hóa học
- Khí thải từ quá trình đốt nhiên liệu sản xuất hơi nước bão hòa.
Ngoài ra, trong quá trình nghiền bột giấy hóa học các khí nặng mùi
như hydro sulphite, mercaptan, …
- Dioxin xuất phát từ quá trình tẩy trắng bột giấy bằng chlorine.
20 Gián tiếp
- Góp phần làm cạn kiết nguồn tài nguyên nước.
- Góp phần làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng.
- Gây hiệu ứng nhà kính thông qua việc sử dụng năng lượng điện và
mất thảm thực vật.
2.4 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY GIẤY TÂN MAI
2.4.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY GIẤY TÂN MAI
2.4.1.1 Vò trí
Công ty giấy Tân Mai thuộc đòa phận phường Thống Nhất, thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2.4.1.2 Lòch sử phát triển
21
22
23
24
25
26
27
28
Năm 1959 : Thành lập Công ty công nghiệp giấy Việt Nam (COGIVINA)
Năm 1963 : Khởi động máy xeo giấy 1 và nhà máy sản xuất bột giấy
Năm 1969 : Khởi động máy xeo giấy 2
Năm 1980 : Tiến hành xây dựng dự án mở rộng Công ty giấy Tân Mai
Năm 1987 : Khởi động nhà máy nghiền dăm.
Năm 1990 : Khởi động máy xeo giấy 3
Năm 1992 : Nâng sản lượng giấy đạt 20.100 tấn giấy/năm
Năm 1994 : Nâng công suất lên 30.500 tấn giấy/năm (tăng 37% so với năm
1993)
29 Năm 1995 : Nâng công suất lên 42.000 tấn giấy/năm. Tiến hành sản xuất
bột giấy theo quy trình CTMP
2.4.1.3 Cơ cấu tổ chức
2.4.1.4 Năng lực sản xuất và sản phẩm
Công ty giấy Tân Mai là Công ty sản xuất bột giấy và giấy lớn nhất miền Nam
và đứng thứ hai cả nước (sau Nhà máy giấy Bãi Bằng)
30 Sản lượng bột giấy : 45.000 tấn/năm
31 Sản lượng giấy : 48.000 tấn/năm
Các sản phẩm giấy chính của Công ty bao gồm :
32
33
34
35
36
Giấy in
Giấy viết
Giấy gói
Giấy bao ximăng
Giấy xếp
2.4.1.5 Thiết bò chính
Về năng lượng : 02 máy biến thế
37 20 MVA 66/15 KV
38 25 MVA 66/15 KV
Về hơi nước : 02 nồi hơi
39 Nồi hơi 1 : hơi bão hòa 17 bar, 28 tấn/giờ
40 Nồi hơi 2 : hơi quá nhiệt 17 bar, 31 tấn/giờ
2.4.1.6 Hóa chất sử dụng
•5 Xút
•6 Kaolin Al2SO3.2SiO2.2H2O
•7 Nhựa thông rắn
•8 TALC Mg3Si4O10(OH)2
•9 Phèn nhôm Al2(SO4)3.18H2O
•10H2O2
•11
Silicate Na2SiO2
•12CaCO3
•13
Vôi CaO
•14Dioxide titan TiO2
•15
Bột mì (C6H10O5)n
•16Phẩm màu
•17
H2SO4 98%, HNO3 65%
•18Nhựa thông cường chế
2.4.2 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BỘT GIẤY VÀ GIẤY
2.4.2.1 Nguyên liệu
Gỗ thông 3 lá nội đòa
Dăm mảnh
Bột CTMP tự sản xuất
Bột nhập : TMP (Norway), CTMP (Canada), CTMP (Newzealand), DIP
(Germany, Canada, France, USA), …
45 Bột tre
46 Giấy vụn
41
42
43
44
2.4.2.2 Công đoạn sản xuất bột giấy
Công đoạn này bao gồm quá trình sản xuất dăm mảnh và công đoạn sản xuất
bột giấy CTMP từ dăm mảnh. Ngoài ra, còn có công đoạn sản xuất bột giấy từ giấy
vụn.
47 Công đoạn sản xuất dăm mảnh
Gỗ chưa sạch vỏ

Đăng nhận xét